Xu hướng của TTCK Việt Nam

TTCK thế giới biến động mạnh trong năm 2018 và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng trên. Từ đỉnh 1,211 điểm giảm mạnh xuống mốc thấp nhất 884 điểm chỉ sau 3 tháng khiến nhiều NĐT thua lỗ nặng nề. Những biến động tiếp sau đó từ thế giới dưới tác động của cuộc chiến thương mại cùng nâng lãi suất của FED biến nửa sau của năm trở thành nỗi ác mộng với tất cả các NĐT trên toàn cầu. Nhiều NĐT Việt cho đến nay vẫn còn sợ hãi trước biến động này và hoài nghi với những gì đang diễn ra. Tuy nhiên, tổng hợp và phân tích tất cả những điều đã và đang diễn ra có thể hình dung một tương lai tươi sáng với TTCK trong thời gian tới.

Cú áp thuế bất ngờ 25% lên 50 tỷ hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu vào Mỹ của Tổng thống Trump hồi Tháng 7 năm 2018 chính thức khơi mào cuộc chiến thương mại. Liên tiếp sau đó là những cú áp thuế theo kiểu ăn miếng trả miếng giữa 2 cường quốc. Giới tài chính lo lắng trước diễn biến này, họ hiểu mối nguy hiểm thực sự của nó nhưng chưa thể đánh giá một cách rõ ràng nhất tác hại lớn đến như thế nào. Thực tế cho thấy sự khốc liệt khi mà chỉ trong thời gian rất ngắn Trung Quốc, nền kinh tế thứ 2 thế giới đã lung lay dữ dội bất chấp con số tăng trưởng GDP mà quốc gia này công bố vẫn cao hơn 6%. Bất ổn thực sự đã diễn ra ở quốc gia này, nhiều Doanh nghiệp liên tiếp công bố phá sản sau khi không thể thanh toán được các khoản vay. Xuất khẩu sụt giảm mạnh trước lo lắng về việc đánh thuế của Mỹ, chỉ số PMI chỉ đạt 50,3 điểm trong tháng 2 thấp nhất trong 6 năm. Trung Quốc đã phải thay đổi chính sách điều hành của mình, qua đó họ buộc phải nới lại van tín dụng nhằm thúc đẩy tăng trưởng. Đầu tư công cũng quay trở lại và nó cho thấy một thực tế, một thực tế hiện hữu là Trung Quốc buộc phải đám phán lại với Mỹ. Họ đã phải chấp nhận một vài điểm nhằm có được sự ủng hộ cho những thỏa thuận sắp đàm phán từ Mỹ như việc thông qua luật đầu tư là một minh chứng. Sự thật khiến cho giới chức Trung Quốc không còn mạnh miệng tuyên bố như trước nữa mà thay vào đó là sự toan tính kỹ lưỡng với từng đường đi nước bước. Người ta nhìn vào biểu đồ doanh số của Apple để nhận ra rằng tình hình tài chính của người dân có vấn đề. Apple Index bỗng trở thành chỉ số khiến cho cả Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) căn cứ để không tăng lãi suất như kế hoạch. Trong bài phát biểu tháng 3 vừa qua, Ổng Powell cho rằng nền kinh tế Mỹ vẫn tích cực nhưng những nền kinh tế khác đang chậm lại trong đó có Trung Quốc.

Theo nhận định của FED, trong năm 2019, kinh tế Mỹ chỉ tăng khoảng 2,1%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 3% đạt được trong 2018. FED cũng dự báo tỷ lệ thất nghiệp trong 2019 sẽ ở mức 3,7%, cao hơn so với dự báo đưa ra hồi tháng 12/2018; lạm phát có thể ở mức 1,8%, thấp hơn mức dự báo 1,9% trước đó.

Như vậy có thể chỉ ra rằng chiến tranh thương mại (Trade War) và FED tăng lãi suất là 2 nguyên nhân chính khiến cho thị trường tài chính toàn cầu chao đảo trong năm 2018. Sự hành xử thô bạo và bất ngờ của Tổng thống Trump có lẽ là yếu tố lớn nhất bởi giới doanh nghiệp, giới đầu tư không thể đoán định được những hành động tiếp theo sẽ là như thế nào. Trong khi đó hàng loạt những con số được công bố đầy bi quan khiến thế giới bước sang một năm 2019 đầy lo âu.

Tuy nhiên trước hàng loạt những động thái gần đây của các nhà lãnh đạo có thể cho rằng năm 2019 sẽ yên ắng hơn thay cho những lo lắng trước đó.

Trước hết hành xử của các nhà lãnh đạo hàng đầu thế giới khi tiếp cận vấn đề sẽ chậm rãi hơn. Cú giảm tốc quá nhanh của nhiều nền kinh tế là nguyên nhân khiến các nhà lãnh đạo phải hành động thận trọng hơn. Chiến tranh thương mại là nguồn gốc và chắc chắc nó sẽ được hóa giải. Tuy nhiên có 1 điều cần phải hiểu là Mỹ sẽ đàm phán nhưng họ chẳng vội gì khi mà những chính sách của họ đã thiết lập ra để chế ngự Trung Quốc đang vô cùng hiệu quả. Có thể nói hơi quá lên rằng người Mỹ đã bóp được yết hầu của Người Trung Quốc nên họ đang giữ lợi thế lớn. Do đó có thể Mỹ sẽ tìm cách trì hoãn đàm phán, càng lâu càng có lợi bởi Trung Quốc mới là người mong muốn đàm phán hơn cả. Nhưng Mỹ cũng đang chịu tác động không hề nhỏ từ cuộc chiến này nền hẳn nhiên họ hiểu nên làm như thế nào. Điều chắc chắn rằng cuộc đàm phán sẽ diễn ra, Mỹ sẽ nới dần những biện pháp kèm theo với những tuyên bố rằng sẽ áp dụng trở lại nếu Trung Quốc không tuân thủ. Thay thế cho hành động khiến cả hai bên đều tổn hại thì Mỹ sẽ sử dụng phương án riêng lẻ đánh vào những tập đoàn lớn, có tham vọng và ảnh hưởng tới Mỹ và đồng minh.

Ông Trump cũng thừa hiểu rằng cuộc bầu cử tiếp theo vào năm 2020 không còn quá xa và ông cần cố gắng giữ được những thành quả đã đạt được. Ba đời tổng thống với 6 nhiệm kỳ trước đó nhưng lại không thể kiểm soát và chế ngự được Trung Quốc nhưng ông lại làm được. Ngay cả Hạ viện vốn không ưa gì ông cũng đã lên tiếng rằng hãy tiếp tục chính sách thuế với hàng hóa Trung Quốc. Đây là lợi thế không nhỏ của ông trong cuộc đua vào Nhà Trắng nhiệm kỳ 2. Với ông kiềm chế Trung Quốc đã phát huy tác dụng nhưng điều quan trọng hơn cả trong giai đoạn cuối nhiệm kỳ chính là kinh tế Mỹ, là lạm phát là thất nghiệp. Đây mới là những con số quan trọng cho cuộc đua vào năm sau và nó có thể khiến cho mọi thành quả của ông trở nên vô nghĩa nếu như mọi thứ ngày càng tồi tệ đi. Trước khi ông lên nắm quyền không ít phát biểu chỉ trích rằng TTCK sẽ sụp đổ và nền kinh tế Mỹ sẽ chao đảo. Cho đến nay dù những điều trên không xảy ra nhưng họ vẫn giữ nguyên quan điểm đó, với luận điệu của chu kỳ 10 năm. Kinh tế Mỹ đang có dấu hiệu chậm lại và những tuyên bố lại bắt đầu quay lại và đó là lúc ông cần làm.

Như thế có thể thấy, rốt cuộc nút thắt thuế sẽ được nới nhưng cần có thời gian đủ để Trung Quốc ngấm đòn sâu hơn. Khi đó mọi thứ sẽ dần quay trở lại với quỹ đạo nhưng điều đáng lo lắng là thuốc chỉ có tác dụng với người ốm chứ không phải với người chết. Trung Quốc vẫn luôn là nỗi lo lớn nhất của tất cả các nhà kinh tế cũng như giới đầu tư. Có thể cuộc khủng hoảng lớn sẽ bắt đầu từ đây theo một cách bất ngờ nhất dù đã có những dự báo.

Chính góc nhìn này cùng với hàng loạt số liệu yếu kém khiến không ít Doanh nghiệp đang hoạt động Trung Quốc cảm thấy bất an. Tìm kiếm giải pháp và dịch chuyển dần sang các quốc gia có lợi thế sẽ là phương án. Việt Nam với lợi thế tăng trưởng tích cực từ nhiều năm cộng hưởng với một Chính phủ kiến tạo đang tạo nên tiếng vang nhất định và là điểm sáng để đón tiếp làn sóng dịch chuyển lớn này. Chúng ta đã có được hình ảnh và tiếng nói lớn sau những sự kiện mang tầm quốc tế lớn như hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Triều Tiên diễn ra tại Hà Nội. Sự kiện văn hóa thể thao tầm cỡ khu vực năm 2018 tiếp tục mang đến sự tự hào cũng như sự đồng lòng của nhân dân. Giải đua xe công thứ 1 (F1) sẽ diễn ra vào Tháng 4 năm 2020 tiếp tục củng cố hình ảnh của Việt Nam. Đó là những lợi thế lớn về mặt hình ảnh và sự kiện để thu hút NĐT nước ngoài.

Với một chiến lược đón đầu rõ ràng trong chủ trương thu hút đầu tư nên chúng ta cũng đã xây dựng rất nhiều cơ sở hạ tầng để đón tiếp làn sóng dịch chuyển này. Những con số đang cho thấy chủ trương trên là đúng. Thống kê về số liệu vốn FDI cho thấy có sự dịch chuyển lớn ngay đầu năm 2019. FDI quý 1 năm 2019 đạt kỷ lục hơn 10 tỷ USD về giá trị vốn đầu tư đăng ký so với cùng kỳ trong vòng 3 năm trở lại đây (quý 1/2016 đạt 4,03 tỷ USD, quý 1/2017 đạt 7,71 tỷ USD và quý 1/2018 đạt 5,8 tỷ USD). Những tập đoàn hàng đầu như Boeing; Foxcoon; … đều tìm đường đến Việt Nam tạo dựng cơ sở mới.

Trên cơ sở đó, một xu hướng tích cực tiếp theo đang được Chính phủ tiếp cận một cách mạnh mẽ và quyết liệt. Đó là mục tiêu mới, tầm nhìn mới đối với thị trường chứng khoán cho giai đoạn 2020-2025. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành QĐ số 242 ngày 28/02/2019 với những mục tiêu cụ thể như : Quy mô thị trường cổ phiếu đạt mức 100% GDP vào năm 2020 và 120% GDP vào năm 2025, quy mô thị trường trái phiếu đạt mức 47% GDP vào năm 2020 và 55% GDP vào năm 2025. Số lượng công ty niêm yết đến năm 2020 tăng 20% so với năm 2017.

GDP năm 2018 đạt khoảng 238 tỷ $, và với tốc độ tăng trưởng GDP 2 năm 2019 & 2020 là 6,8% thì GDP khi đó đạt 272 tỷ $. Năm 2018 quy mô vốn TTCK đạt khoảng 75% tương đương 178 tỷ $. Để có được quy mô 100% GDP vào năm 2020 thì tăng trưởng vốn hóa mỗi năm phải là 24%.

Bài toán này chỉ có thể giải bằng đáp án là nhanh chóng IPO các doanh nghiệp Nhà nước, buộc các Công ty đại chúng tuân thủ lên sàn Niêm yết, thoái vốn Nhà nước. Song hành với đó là tạo ra một sân chơi đủ lớn, minh bạch và nhiều công cụ thu hút dòng tiền. Tất cả nhiệm vụ đó đều phục vụ cho một mục tiêu lớn là nâng hạng thị trường từ cận biên lên thành thị trường mới nổi. Chính phủ cũng không giấu diếm mục tiêu này nên sẽ làm mọi cách để có được mục tiêu trên. Làm được điều này TTCK Việt Nam sẽ thu hút được hàng tỷ $ dòng vốn thụ động theo chân các quỹ ETF chảy vào.

Tất nhiên đang còn rất nhiều vướng mắc và khó khăn để đạt được mục tiêu này. Những yêu câu mà MSCI hay FTSE Russell đánh giá còn thiếu sẽ khẩn trương được thực hiện. Chính phủ đã yêu cầu sửa đổi lại cùng lúc 3 luật là Luật Chứng khoán; Luật Doanh nghiệp và Luật đầu tư nhằm giải quyết tất cả những vướng mắc đang tồn tại trong thu hút vốn, đặc biệt liên quan đến NĐTNN. Theo đó cố gắng thông qua ngay trong năm 2019 và có hiệu lực kể từ năm 2020. Thêm vào đó là trao thêm quyền cho cơ quan quản lý như UBCK, các Sở. Sáp nhập 2 Sở lại thành một Sở duy nhất để thống nhất quản lý tập trung đồng thời giảm bớt chi phí cho những thành viên, đặc biệt là những công ty chứng khoán.

Luật chứng khoán có lẽ là điểm nhấn lớn bởi khi có hiệu lực ngay lập tức room cho khối ngoại tự động được nâng lên thành 100% mà không cần thông qua Đại hội cổ đông như trước miễn là Doanh nghiệp đó không nằm trong 235 ngành nghề bị kiểm soát. NĐT nước ngoài trước đây thường than phiên rằng có rất nhiều Doanh nghiệp đáng đầu tư đều kín room như FPT, REE, … Ngay cả khi cho phép nới room nên thành 100% nhưng lại phải chờ ĐHCĐ thông qua trong khi nhiều “Ông chủ”, tức những người có tỷ lệ lớn có thể sẽ phủ quyết. Vì thế đây chắc chắn là câu chuyện lớn, một mặt nó tạo ra áp với chính những “Ông chủ”  Doanh nghiệp đang kín room 49% về áp lực kinh doanh, về khả năng duy trì doanh nghiệp nếu không muốn bị thâu tóm.Mặt khác nó sẽ tạo ra cho NĐTNN một bản danh sách dài hơn những Doanh nghiệp mà họ có thể mua và đầu tư.

Trong câu chuyện về room cho khối ngoại cần nhắc đến nhóm Ngân hàng. Đây là nhóm ngành có quy mô vốn rất lớn trên thị trường với hàng chục Ngân hàng đang Niêm yết.

Nhiều năm gần đây ngành Ngân hàng đã có sự thay đổi lớn và phát triển vượt bậc về tài sản và quy mô. Tuy nhiên để không tái lập câu chuyện cũ đồng thời mang đến hình ảnh mới, tham vọng mới cho sự phát triển thì các Ngân hàng cần phải tiếp tới tiêu chuẩn cụ thể mà ở đây là Basel 2. Trên thế giới nhiều quốc gia đã tiến lên chuẩn Basel 3 nên việc áp dụng này là vô cùng cấp thiết. 10 Ngân hàng làm tiêu chí với lộ trình áp dụng đến năm 2020 mới chỉ có 2 cái tên được xướng. Tại sao lại mới chỉ có 2 cái tên, vướng mắc và khó khăn là gì? Thực tế để đáp ứng Basel 2 thì yêu cầu quan trọng và tối thượng là tăng vốn nhưng nhiều Bank không thể làm được. Huy động từ NĐT trong nước không khả thi, đặc biệt trong bối cảnh nhiều Ngân hàng vẫn còn tỷ lệ lớn của Nhà nước, hay của “Ông chủ”. Chúng ta không thể tăng vốn cấp 1 với tình thế như vậy nên buộc các Ngân hàng tìm đến vốn ngoại. Điểm tích cực ở đây lại chính là xu hướng dòng vốn ngoại này có xuất xứ từ Hàn Quốc, Thái Lan, Sing … ngày một gia tăng. Các tổ chức Ngân hàng, Tài chính lớn đang có mặt tại Việt Nam ngày một nhiều với những cái tên như KEB Hana Bank, Mira Asset, KB, Yuan ta …Trong khi đó lộ trình áp dụng Basel 2 đã quá cận kề thì việc nới thêm room cho lĩnh vực Ngân hàng sẽ sớm được xem xét. Trung Quốc một nền tài chính tương đồng với chúng ta cũng đã chính thức nâng tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa đối với các ngân hàng và các công ty quản lý tài sản lên 51%.

Những NĐT mạo hiểm đã theo chân vào Việt Nam mà điển hình là tiền Thái, Hàn, Trung và một số nước khác. Tại Thái Lan, một tổ chức đã lập quỹ ETF với mục tiêu thu hút khoảng 300 triệu $ nhằm mua vào CCQ VFMVN30ETF trên thị trường. Cho đến hiện tại dòng tiền này vẫn liên tục mua ròng và chảy vào CCQ này. Đến hết Tháng 3 theo tính toán sơ bộ đã có khoảng 1,700 tỷ (120 triệu CCQ) và chắc chắn sẽ còn tiếp tục. Các quỹ ETF khác là Vaneck ETF và FTSE ETF cũng thu hút được lượng tiền không nhỏ. Có thể nhận thấy xu hướng đón đầu nâng hạng khá rõ của dòng tiền này bởi một khi Việt Nam được xác nhận thì chắc chắn thị trường sẽ tăng mạnh. Thống kê từ những thị trường đã từng được nâng hạng như Argentina, Kuwait; Banglades …cho thấy sóng tăng sẽ hình thành rất sớm.

TTCK đã bứt phá mạnh cuối năm 2017 đầu năm 2018 sau nhiều năm tích lũy. Sẽ khó kỳ vọng ngay một con sóng tiếp theo sẽ xuất hiện mà thay vào đó là một nhịp tích lũy đủ dài, đủ lớn trong 1-2 năm tới. Sóng to không còn mà thay thế vào đó là những biến động với biên độ đủ lớn để NĐT trading theo từng giai đoạn. Sóng chung không xuất hiện nhưng sóng riêng lẻ sẽ không thiếu trong quá trình Việt Nam thực hiện những chính sách mới và vươn lên tầm cao mới. Đây là câu chuyện mà NĐT cần hành động nhằm nuôi dưỡng ý chí, kỳ vọng cùng mục tiêu lớn mà Chính phủ đang theo đuổi. Việt Nam chưa khi nào, chưa bao giờ lại ở giai đoạn Vàng đến như vậy để có thể vươn lên. Cơ hội là rất lớn nhưng những ai có thể hưởng lợi được cần có một cái nhìn đủ dài, đủ tầm và tìm tòi nghiên cứu.

Kết Nối Đầu Tư

(Lượt xem: 89 lần, 1: Lượt xem trong ngày)