Nhận định kết quả KD 6 tháng đầu năm và động lực tăng trưởng của MSN, VNM, HPG

Nhận định KQKD – KQKD 6 tháng đầu năm của MSN tích cực với lợi nhuận thuần từ HĐSXKD tăng trưởng 242,6% so với cùng kỳ. Triển vọng tương lai khá. Tiếp tục đánh giá Mua vào. CTCP Tập đoàn Masan (MSN – Mua vào) đã công bố KQKD 6 tháng đầu năm 2018 với doanh thu thuần đạt 17.458 tỷ đồng, giảm 3,1% so với cùng kỳ và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 3.030 tỷ đồng, tăng 566% so với cùng kỳ. Nếu không tính 1.472 tỷ đồng lợi nhuận không thường xuyên, thì LNST của cổ đông công ty mẹ là 1.558 tỷ đồng, tăng 242,6% so với cùng kỳ. Sau 6 tháng, MSN đã hoàn thành được 38,8% kế hoạch doanh thu thuần và 45,9% kế hoạch lợi nhuận thuần từ HĐSXKD. Nếu xét đến yếu tố mùa vụ thì kết quả đạt được khả quan hơn một chút so với kỳ vọng của chúng tôi.

Kết luận nhanh – Tiếp tục đánh giá Mua vào. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu là 97.000đ, tương đương P/E dự phóng là 29,2 lần và EV/EBITDA là 12,2 lần. MSN đã công bố KQKD 6 tháng đầu năm 2018 với doanh thu thuần đạt 17.458 tỷ đồng, giảm 3,1% so với cùng kỳ và LNST của cổ đông công ty mẹ tăng mạnh hơn nhiều kỳ vọng là 3.030 tỷ đồng, tăng 566% so với cùng kỳ. Trong Q2 công ty đã hạch toán một khoản lợi nhuận tài chính là 1.472 tỷ đồng từ thoái vốn kỹ thuật 5,2% cổ phần TCB.

Nếu không tính khoản lợi nhuận tài chính này, thì LNST của cổ đông công ty mẹ vẫn tăng trưởng mạnh, đạt 1.558 tỷ đồng, tăng 242,6% so với cùng kỳ và cao hơn một chút so với ước tính trước đó của công ty là 1.500 tỷ đồng. Tăng trưởng trong 6 tháng đầu năm đạt được nhờ sự tăng trưởng từ hoạt động kinh doanh hiện hữu của Masan Consumer; sự cải thiện trong KQKD của Masan Nutri Science và KQKD của Masan Resources tăng mạnh. Chúng tôi cho rằng lợi nhuận của MSN sẽ tăng trưởng 10-20% trong vài năm tới. Trên thực tế, nếu tăng trưởng chủ yếu đến từ sản phẩm mới tại Masan Consumer, thì cổ phiếu MSN có vẻ vẫn đáng để mua vào.

Doanh thu 6 tháng đầu năm giảm nhẹ 3,1% so với cùng kỳ do doanh thu của Masan Nutri Science giảm trong khi cả Masan Consumer Holdings (MCH) và Masan Resources (MSR) có doanh thu tăng mạnh.

  • Doanh thu thuần của MCH đạt 7.520 tỷ đồng, tăng 36,9% so với cùng kỳ nhờ sự tăng trưởng mạnh ở hầu hết các mảng chủ chốt.
  • Doanh thu thuần của MSR đạt 3.239 tỷ đồng, tăng 26,6% so với cùng kỳ nhờ giá bán và sản lượng tiêu thụ tăng.
  • Doanh thu thuần của MNS giảm 32,8% từ mức cùng kỳ năm ngoái là 9.964 tỷ đồng xuống còn 6.693 tỷ đồng do cả giá và sản lượng giảm kể từ khi đàn lợn tại Việt Nam giảm mạnh vào năm ngoái.

Tỷ suất lợi nhuận gộp tăng từ 29,5% trong 6 tháng đầu năm ngoái lên 31,8% trong 6 tháng đầu năm nay – Giá vốn hàng bán giảm 6,3% so với cùng kỳ xuống còn 11.889 tỷ đồng và nhờ vậy tỷ suất lợi nhuận gộp được cải thiện. Tỷ suất lợi nhuận gộp theo từng ngành như sau;

  • Tỷ suất lợi nhuận gộp của MCH tăng từ 41,4% lên 44,4% nhờ tăng tỷ trọng các sản phẩm có tỷ suất lợi nhuận cao như  gia vị và nước uống tăng lực cũng như nỗ lực cao cấp hóa các sản phẩm tiện dụng.
  • Tỷ suất lợi nhuận gộp của MNS giảm từ 22,8% xuống 15,9% do giá bán giảm.
  • Tỷ suất lợi nhuận gộp của MSR cũng tăng từ 29,5% lên 35,1% nhờ giá bán tất cả các sản phẩm đều tăng và hiệu quả hoạt động được cải thiện.

Chi phí bán hàng & quản lý giảm mạnh 21,8% so với cùng kỳ – Chi phí bán hàng & quản lý là 2.907 tỷ đồng, giảm 21,8% chủ yếu do chi phí bán hàng & quản lý của MNS giảm mạnh trong khi đó chi phí này của MCH chỉ tăng nhẹ. Do đó, tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý trên doanh thu giảm từ 20,6% trong 6 tháng đầu năm ngoái xuống 16,6% trong 6 tháng đầu năm nay.

  • Chi phí bán hàng & quản lý của MCH là 1.890 tỷ đồng, giảm 6,6% so với cùng kỳ. Tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý trên doanh thu giảm mạnh từ 36,8% trong 6 tháng đầu năm ngoái xuống 25,1% trong 6 tháng đầu năm nay do công ty giảm chi phí bán hàng (đặc biệt là chi phí khuyến mại) và tăng chi phí marketing. Cụ thể, chi phí bán hàng giảm 40% so với cùng kỳ. Đồng thời chi phí marketing tăng 66%.
  • Chi phí bán hàng & quản lý của MNS giảm 49,3% từ 1.482 tỷ đồng xuống 751 tỷ đồng do doanh thu giảm cộng với nỗ lực tiết kiệm chi phí của công ty.
  • Chi phí bán hàng & quản lý của MSR là 146 tỷ đồng, tăng 13,2% so với cùng kỳ.

MSN đã hạch toán 1.472 tỷ đồng lợi nhuận từ thoái vốn kỹ thuật 5,2% cổ phần TCB – Trong Q2, công ty liên kết của MSN là TCB đã bán tổng cộng 172.353.345 cổ phiếu quỹ cho một số NĐT và CBCNV, thu về 16.349 tỷ đồng. MSN đã không mua số cổ phiếu này nên tỷ lệ sở hữu của công ty tại TCB đã giảm từ 25,2% xuống còn 20%. Theo đó về mặt kỹ thuật MSN được coi là đã thoái vốn 5,2% cổ phần TCB và đem lại lợi nhuận tài chính. Khoản lợi nhuận bằng số tiền giả định phân bổ cho MSN (20% của 16.349 tỷ đồng nói trên) trừ đi giá trị của số cổ phần trên (5,2%) trước khi thoái vốn kỹ thuật. Và kết quả là 1.472 tỷ đồng. Khoản lợi nhuận này chỉ có ý nghĩa về mặt kế toán mà không đem lại dòng tiền thực sự cho công ty.

Do vậy sau nhiều năm đây là lần đầu tiên MSN hạch toán lợi nhuận tài chính thuần trong kỳ kế toán 6 tháng đầu năm – Lợi nhuận tài chính thuần trong 6 tháng đầu năm 2018 là 61 tỷ đồng trong khi trong 6 tháng đầu năm 2017 công ty ghi nhận 1.578 tỷ đồng lỗ tài chính thuần. Và điều này là nhờ công ty đã hạch toán 1.472 tỷ đồng lãi từ thoái vốn kỹ thuật. Trong khi đó chi phí lãi vay cũng giảm 16% xuống còn 1.500 tỷ đồng.

Lợi nhuận từ các công ty liên kết tăng mạnh 45,5% – Lợi nhuận từ các công ty liên kết đạt 987 tỷ đồng, tăng 45,5% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ lợi nhuận của Techcombank tăng mạnh. Trong 6 tháng đầu năm, Techcombank đạt LNTT 5.196 tỷ đồng, tăng 90,1% so với cùng kỳ. Tại thời điểm cuối tháng 6, MSN có 20% lợi ích kinh tế tại Techcombank.

Vay nợ thuần giảm 5,2% so với quý liền trước – Tại thời điểm cuối tháng 6, tổng nợ của MSN là 34.733 tỷ đồng và tiền mặt là 6.098 tỷ đồng, theo đó vay nợ thuần giảm 5,2% so với quý liền trước. Tỷ lệ nợ/EBITDA cũng giảm từ 3,4 lần vào ngày 31/3 xuống 3,2 lần vào ngày 30/6. Giảm nợ là mục tiêu của MSN trong năm nay.

KQKD 6 tháng đầu năm của từng mảng kinh doanh – Chi tiết KQKD 6 tháng đầu năm của từng mảng kinh doanh như sau;

  1. Masan Consumer Holdings (MCH) công bố doanh thu thuần đạt 7.526 tỷ đồng, tăng 36,9% so với cùng kỳ và EBITDA đạt 1.908 tỷ đồng, tăng 174,3% so với cùng kỳ. Doanh thu thuần tăng nhờ sự hồi phục của các nhãn hàng chủ chốt cộng với sự cải tiến đưa sản phẩm lên dòng cao cấp. Tỷ suất lợi nhuận gộp tăng nhờ cơ cấu doanh thu được cải thiện với tỷ trọng sản phẩm gia vị cao cấp đóng góp vào doanh thu thuần tăng từ 20% trong 6 tháng đầu năm 2017 lên 25%. Sau khi đưa sản phẩm mới ra thị trường trong Q2, MCH đang đầu tư thêm vào hoạt động marketing nhằm xây dựng thương hiệu nên chi phí marketing đã tăng 66% lên 556 tỷ đồng. Đồng thời công ty giảm 40% chi phí bán hàng xuống còn 599 tỷ đồng. Do vậy tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu giảm mạnh từ 36,8% trong 6 tháng đầu năm 2017 xuống còn 25,1% trong 6 tháng đầu năm 2018.

Mức tồn kho (giá trị tồn kho) của hầu hết các dòng sản phẩm tại các đơn vị phân phối đã giảm đáng kể. Tại thời điểm ngày 30/6/2018 tồn kho hàng gia vị là 344 tỷ đồng trong khi tại thời điểm ngày 30/6/2017 là 660 tỷ đồng; thực phẩm tiện lợi lần lượt là 138 tỷ đồng và 172 tỷ đồng còn đồ uống lần lượt là 82 tỷ đồng và 129 tỷ đồng. Và số ngày tồn kho tại các đơn vị phân phối được duy trì ở mức tối ưu là 2-3 tuần. Cụ thể theo từng sản phẩm;

  • Hàng gia vị đạt doanh thu thuần là 1.038 tỷ đồng, tăng 41,9% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng tăng đóng góp 70% vào sự tăng trưởng doanh thu. Các nhãn hàng chủ chốt như Chinsu và Nam Ngư đóng góp 90% tăng trưởng trong khi sản phẩm mới tung ra thị trường như nước mắm Nam Ngư đóng góp 10% còn lại. Sản phẩm cao cấp đóng góp 25% tổng doanh thu sản phẩm gia vị trong khi cùng kỳ năm ngoái là 20%.
  • Thực phẩm tiện lợi đạt doanh thu thuần là 1.996 tỷ đồng, tăng 37% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng tăng đóng góp chủ yếu (85%) vào sự tăng trưởng doanh thu. Giống như sản phẩm gia vị, các nhãn hàng chủ chốt đóng góp 90% tăng trưởng trong khi sản phẩm mới như “mì Omachi ly với cây thịt”, Tiến Vua đóng góp 10% còn lại.
  • Cà phê đạt doanh thu thuần là 638 tỷ đồng, tăng 79,5% so với cùng kỳ nhờ sản lượng tiêu thụ tăng.
  • Đồ uống không cồn tăng trưởng với động lực là nước uống tăng lực. Doanh thu thuần mảng này đạt 1.233 tỷ đồng, tăng 24,3% so với cùng kỳ. Trong đó, nước tăng lực với thương hiệu Wake-up 247 đạt doanh thu 825 tỷ đồng, tăng 50% so với cùng kỳ nhờ hệ thống phân phối được mở rộng từ 75.000 điểm bán hàng tại thời điểm cuối năm 2017 lên gần 90.000 điểm. Sản phẩm nước tăng lực mới có tên “Compact” được tung ra thị trường vào tháng 4 cũng có đóng góp.
  • Doanh thu từ bia tăng hơn 5 lần từ 36 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2017 lên 189 tỷ đồng với bia “Sư Tử Trắng” và sản phẩm bia cao cấp mới “Sư Tử Trắng Kinh” được tung ra thị trường.
  1. KQKD của Masan Nutri Science vẫn tăng trưởng âm mặc dù giá thịt lợn đã tăng trong Q2/2018. Ngành kinh doanh này vẫn chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kéo dài từ năm 2017 đến Q1/2018.  Giá thịt heo ở khoảng 30.000đ/kg trong phần lớn thời gian của năm 2017 và Q1/2018. Giá đã tăng kể từ đầu Q2 lên khoảng 48.000đ/kg vào tháng 6. Tuy nhiên thị trường thức ăn cho heo phải mất 6-9 tháng để hồi phục sau cú sụt giảm mạnh về giá, theo đó doanh thu thuần đạt 6.693 tỷ đồng, giảm 32,8% so với cùng kỳ và EBITDA là 640 tỷ đồng, giảm 42,4% so với cùng kỳ. Tỷ suất EBITDA giảm từ 11,1% xuống 9,6% do đóng góp cao hơn từ sản phẩm có tỷ suất lợi nhuận thấp là Bio-zeem Xanh.
  1. Doanh thu thuần của Masan Resources đạt 3.239 tỷ đồng, tăng 26,6% so với cùng kỳ và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 300 tỷ đồng, tăng 337,4% so với cùng kỳ. Doanh thu và lợi nhuận tăng chủ yếu nhờ giá bán hầu hết các sản phẩm quặng tăng mạnh. Giá tungsten tăng mạnh nhất, tăng 59,2% so với cùng kỳ lên 328 USD/mtu, giá fluorspar tăng 50,6% so với cùng kỳ lên 488 USD/tấn, giá đồng tăng 20,1% so với cùng kỳ lên 6.902 USD/tấn và giá bismuth tăng 6,5% so với cùng kỳ lên 4,9USD/lb. Sản lượng giảm 13,2% so với cùng kỳ xuống còn 5.939 tấn (quy ra tungsten) do công ty khai thác quặng tungsten và fluorspar có phẩm cấp thấp hơn.

HSC dự báo lợi nhuận thuần từ HĐSXKD tăng trưởng 47,8% trong năm 2018 – HSC dự báo doanh thu thuần đạt 41.317 tỷ đồng (tăng trưởng 9,8%) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 4.957 tỷ đồng, tăng trưởng 59,8%. Dự báo LNST của cổ đông công ty mẹ  từ hoạt động kinh doanh chính sau khi điều chỉnh cho khoản lợi nhuận không thường xuyên trong năm ngoái và năm nay là 3.485 tỷ đồng, tăng trưởng 47,8%. Các giả định chính của chúng tôi cho từng mảng kinh doanh chủ chốt như sau;

  1. Doanh thu thuần của Masan Consumer Holding đạt 17.290 tỷ đồng, tăng trưởng 24,1% và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 2.662 tỷ đồng, tăng trưởng 130,2%. Masan Consumer Holding đã hoàn thành quá trình tái cơ cấu mô hình kinh doanh với số ngày tồn kho tại nhà phân phối giảm về mức thông thường của ngành. Công ty cũng sở hữu danh mục các sản phẩm mới sẽ tung ra thị trường rất ấn tượng cho năm 2018 và cho đến nay các sản phẩm này cho kết quả khả quan trong 6 tháng đầu năm.
  1. Doanh thu thuần của Masan Nutri Science đạt 16.995 tỷ đồng, giảm 9,1% và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 487 tỷ đồng, giảm 21,2%.
  1. Doanh thu thuần của Masan Resources đạt 7.489 tỷ đồng, tăng trưởng 38,6% và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 759 tỷ đồng, tăng trưởng 268,7% với giả định giá tungsten bình quân là 310 USD/mtu, tăng 29,7%, giá fluorspar là 450 USD/tấn, tăng 60,1%, giá đồng là 6.400 USD/tấn, tăng 9,4% và giá bismuth là 4,8 USD/pound, giữ nguyên.

HSC dự báo lợi nhuận thuần tăng trưởng 19,6% trong năm 2019 – HSC dự báo doanh thu thuần đạt 44.907 tỷ đồng (tăng trưởng 8,7%) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 4.168 tỷ đồng, tăng trưởng 19,6%. Các giả định chủ chốt của chúng tôi là:

  1. Doanh thu thuần của Masan Consumer Holding đạt 18.392 tỷ đồng, tăng trưởng 9,3% và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 3.094 tỷ đồng, tăng trưởng 16,2%.
  1. Doanh thu thuần của Masan Nutri Science đạt 18.524 tỷ đồng, tăng trưởng 9% và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 591 tỷ đồng, tăng trưởng 21,3%.
  1. Doanh thu thuần của Masan Resources đạt 7.990 tỷ đồng, tăng trưởng 6,7% và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 833 tỷ đồng, tăng trưởng 9,7%.

Quan điểm đầu tư – Tiếp tục duy trì đánh giá Mua vào. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu MSN là 97.000đ, tương đương P/E dự phóng 2018 là 29,2 lần và EV/EBITDA là 12,2 lần. Quá trình tái cơ cấu mảng hàng tiêu dùng đã cho thấy kết quả tốt từ Q4 năm ngoái trong khi mảng khai thác tài nguyên hưởng lợi từ xu hướng tăng giá bán cộng với hiệu quả hoạt động được cải thiện. Cuộc khủng hoảng giá thịt lợn có vẻ đã chấm dứt và mảng thức ăn cho heo có cơ hội hồi phục trong 6 tháng cuối năm nay và năm sau. Chúng tôi cho rằng lợi nhuận của MSN sẽ quay lại mức tăng trưởng bình thường là 10-20% kể từ năm sau. Triển vọng dài hạn của mô hình 3F của Masan Nutri Science có nhiều hứa hẹn.

Nhận định KQKD – KQKD 6 tháng đầu năm của VNM gây thất vọng vì không có sự cải thiện trong Q2. Triển vọng tăng trưởng ở mức vừa phải. Giảm đánh giá xuống Nắm giữ – VNM (giảm đánh giá từ Khả quan xuống Nắm giữ) đã công bố KQKD 6 tháng đầu năm kém hơn kỳ vọng với doanh thu thuần đạt 25.823 tỷ đồng, tăng 1,7% so với cùng kỳ và LNST đạt 5.368 tỷ đồng, giảm 8,4% so với cùng kỳ. Trong báo cáo ước tính KQKD gần dây của mình, chúng tôi đã dự báo cả doanh thu thuần và LNST sẽ tăng trưởng dưới 5%. Và doanh thu thực hiện sát ước tính của chúng tôi nhưng lợi nhuận thực hiện lại thấp hơn nhiều so với kỳ vọng của chúng tôi. Với kết quả này, VNM đã hoàn thành được 46,5% kế hoạch doanh thu thuần và 49,9% kế hoạch LNST đề ra cả năm.

Kết luận nhanh. Giảm đánh giá từ Khả quan xuống Nắm giữ. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu VNM là 183.000đ; tương đương P/E dự phóng năm 2018 là 27,5 lần. Cho năm 2018, HSC dự báo LNST tăng trưởng 4,4%; thấp hơn một chút so với dự báo trước đó. Cho năm 2019, HSC dự báo LNST tăng trưởng 4,5%. KQKD 6 tháng đầu năm kém khả quan đã xác nhận sự tăng trưởng chậm lại của hoạt động kinh doanh hiện hữu. Tăng trưởng trong nước chậm lại do nhu cầu tại khu vực thành thị kém đi trong khi xuất khẩu giảm. Tỷ suất lợi nhuận và lợi nhuận bị ảnh hưởng do chi phí đầu vào tăng cộng với sự đóng góp của mảng đường có tỷ suất lợi nhuận thấp. Lý do đằng sau sự yếu đi của nhu cầu có vẻ liên quan đến sự thay đổi trong xu hướng tiêu dùng tại khu vực thành thị. Hiện có thể khẳng định sự tăng trưởng chậm lại của VNM không còn mang tính ngắn hạn và chúng tôi cho rằng VNM có lẽ cần xem xét các phương án thúc đẩy tăng trưởng như thực hiện các thương vụ M&A hoặc mở rộng vào các thị trường khác. Có khả năng SCIC tiếp tục bán cổ phần trong năm nay và đây có thể là động lực trung hạn cho giá cổ phiếu.

Doanh thu thuần tăng trưởng chậm do sự suy giảm tăng trưởng của thị trường nội địa, xuất khẩu giảm và các công ty con ở nước ngoài không tăng trưởng – Doanh thu thuần đạt 25.823 tỷ đồng, tăng 1,7% so với cùng kỳ. Trong đó:

–     Doanh thu từ thị trường trong nước tăng 3,2% so với cùng kỳ lên 22.207 tỷ đồng, đóng góp 86% vào tổng doanh thu. Tuy nhiên, doanh thu từ các sản phẩm chủ đạo (sữa và đồ uống) giảm 1,6% so với cùng kỳ từ 21.173 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm ngoái xuống còn 20.410 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm nay. Công ty con mới được mua lại Vietsugar đóng góp 900 tỷ doanh thu thuần trong 6 tháng đầu năm giúp doanh thu nội địa tăng.

Chúng tôi thấy nhu cầu trong ngành đã có xu hướng đi xuống rõ ràng. Theo Kantar World Panel (chuyên gia hàng đầu thế giới về hành vi người mua hàng), thì trong 5 tháng đầu năm 2018, ngành sữa của Việt Nam chứng kiến sự suy giảm 2,3% về giá trị tại khu vực thành thị và sự tăng trưởng 2% tại khu vực nông thôn. Tổng dung lượng thị trường FMCG cũng tăng chậm hơn tại cả thị trường thành thị và nông thôn, lần lượt là 3,8% và 4,3% trong 5 tháng đầu năm 2018 trong khi trong cùng kỳ năm ngoái là 5,2% và 4,6%. Lý do là kỳ vọng và nhu cầu của khách hàng đã thay đổi. Người mua hàng có xu hướng giảm chi tiêu cho hàng bách hóa và tăng chi tiêu cho các sản phẩm không phải là FMCG như ăn uống tại nhà hàng, mua các sản phẩm giá trị cao, giải trí và công nghệ.

–     Doanh thu xuất khẩu giảm 11,8% so với cùng kỳ còn 2.042 tỷ đồng, đóng góp 7,9% vào tổng doanh thu. Thị trường xuất khẩu của VNM vẫn tập trung với 70-80% doanh thu xuất khẩu là từ thị trường Iraq và các nhà phân phối của công ty tại Iraq đã chủ động giảm tiêu thụ tại thị trường này trong 6 tháng đầu năm vì rủi ro phải thu khó đòi cao.

–     Doanh thu từ công ty con (gồm Driftwood tại Mỹ và Angkor tại Campuchia) giữ nguyên so với cùng kỳ ở 1.573 tỷ đồng và đóng góp 6,1% vào tổng doanh thu.

Giá vốn hàng bán tăng nhanh hơn doanh thu do VNM lần đầu hợp nhất công ty đường – Giá vốn hàng bán là 13.867 tỷ đồng, tăng 6,4% so với cùng kỳ. Giá vốn hàng bán tăng nhanh hơn doanh thu nên tỷ suất lợi nhuận gộp đã giảm từ 46,3% trong 6 tháng đầu năm ngoái xuống 45,7% trong 6 tháng đầu năm nay. Điều này là do chi phí nguyên liệu đầu vào tăng 13% (chi phí nguyên liệu sữa đầu vào tăng khoảng 1,5% so với cùng kỳ). Tuy nhiên chủ yếu là do có thêm giá vốn hàng bán của Vietsugar, công ty con VNM mua lại vào ngày 31/12/2017. Với doanh thu 900 tỷ đồng trong 6 tháng, chúng tôi ước tính giá vốn hàng bán từ đường là 810 tỷ đồng.

Phân tích biên lợi nhuận gộp theo từng mảng kinh doanh – Xu hướng tỷ suất lợi nhuận gộp theo từng mảng như sau:

  1. Biên lợi nhuận gộp của doanh thu nội địa giảm từ 48,5% xuống 46,3% chủ yếu do hợp nhất với công ty đường. Trong khi đó biên lợi nhuận gộp của công ty mẹ (bao gồm các mảng kinh doanh chính như sữa và nước giải khát) vẫn duy trì ở mức 48,3%. Chúng tôi ước tính công ty đường có tỷ suất lợi nhuận khoảng 10%, thấp hơn nhiều so với của công ty mẹ.
  1. Biên lợi nhuận gộp của xuất khẩu giảm từ 67,2% xuống 58,9% do công ty giảm giá bán để tăng nhu cầu.
  1. Các công ty con ở nước ngoài cho tỷ suất lợi nhuận gộp là 23,4% tăng nhẹ từ 23,2% trước đó.

Chi phí bán hàng & quản lý tăng vừa phải – Chi phí bán hàng & quản lý tăng 3,1% từ 5.830 tỷ đồng lên 6.010 tỷ đồng, tăng chậm hơn so với năm ngoái do doanh thu cũng tăng chậm. Yếu tố đáng chú ý nhất là chi phí nhân công giảm (giảm 9,3% so với cùng kỳ xuống 521 tỷ đồng và chi phí quảng cáo giảm (giảm 13,6% so với cùng kỳ xuống 936 tỷ đồng). Công ty vẫn đầu tư nhiều cho khuyến mại, trưng bày, giới thiệu sản phẩm và hỗ trợ bán hàng với tổng chi phí cho các hoạt động này lên tới 3.750 tỷ đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ. Do đó, tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu tăng nhẹ từ 23% trong 6 tháng cuối năm ngoái lên 23,3% trong cùng kỳ năm nay.

Thu nhập tài chính thuần không đóng góp nhiều như thường lệ – Trong 6 tháng đầu năm nay, VNM ghi nhận thu nhập tài chính thuần là 332 tỷ đồng, giảm 4,5% so với cùng kỳ do thu nhập tài chính giảm 2,4% xuống 395 tỷ đồng và chi phí tài chính tăng 10,3% lên 63 tỷ đồng. Theo đó, thu nhập tài chính thuần đóng góp chỉ 5,2% cho LNTT của công ty trong 6 tháng đầu năm nay.

Cho năm 2018, HSC điều chỉnh giảm nhẹ 1,5% dự báo với LNST cho năm 2018 và hiện dự báo mức tăng trưởng 4,4% – Chúng tôi điều chỉnh gảm 3% dự báo doanh thu từ 55.569 tỷ đồng, tăng trưởng 8,9% xuống 53.939 tỷ đồng, tăng trưởng 5,7% và giảm 1,5% dự báo LNST từ 10.908 tỷ đồng, tăng trưởng 6% xuống 10.743 tỷ đồng, tăng trưởng 4,3%. Các giả định của chúng tôi gồm:

  1. Ngành sữa Việt Nam tăng trưởng 4% trong năm 2018.
  1. Thị phần của VNM tăng từ 57,1% trong năm 2017 lên 57,8% trong năm 2018.
  1. Doanh thu trong nước đạt 46.478 tỷ đồng, tăng trưởng 6,7% và đóng góp 86,2% vào tổng doanh thu.
  1. Doanh thu xuất khẩu giảm 4,2% còn 4.223 tỷ đồng, đóng góp 7,8% vào tổng doanh thu.
  1. Doanh thu của các công ty con ở nước ngoài tăng trưởng 5,7% đạt 3.236 tỷ đồng và đóng góp 6% vào tổng doanh thu.
  1. Giá bột sữa nguyên liệu bình quân là 2.600 USD/tấn, tăng 3,2%. Giá sữa tươi mua từ nông dân trong nước cung cấp giữ nguyên. Giá đường giảm 10% còn chi phí bao bì tăng 8%. Theo đó tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 46%; thấp hơn một chút so với mức 47,5% trong năm 2017.
  1. Tỷ lệ chi phí bán hàng/doanh thu là 23,9%; thấp hơn so với mức 25,1% trong năm 2017 nhờ tiết kiệm chi phí tốt hơn.

Theo đó, EPS năm 2018 dự báo đạt 6.662đ, tăng 6%; P/E dự phóng năm 2018 là 25,2 lần và EV/EBITDA là 21 lần.

Cho năm 2019, HSC dự báo lợi nhuận tăng trưởng 4,5% – Chúng tôi dự báo doanh thu thuần năm 2019 đạt 56.858 tỷ đồng, tăng trưởng 5,8% và LNST đạt 11.221 tỷ đồng, tăng trưởng 4,5%. Các giả định của chúng tôi gồm:

  1. Ngành sữa Việt Nam tăng trưởng 5,1%.
  1. Thị phần của VNM tăng từ 57,8% trong năm 2018 lên 58,4% trong năm 2019.
  1. Doanh thu trong nước tăng trưởng 5,6%.
  1. Doanh thu xuất khẩu tăng trưởng 3%.
  1. Doanh thu của các công ty con nước ngoài tăng trưởng 6,1%.
  1. Giá các nguyên vật liệu chính không đổi so với năm 2018.
  1. Tỷ lệ chi phí bán hnagf & quản lý/donah thu không đổi, là 23,9%.

Theo đó, chúng tôi dự báo EPS 2019 là 6.959đ, tăng 4,5%, định giá công ty với P/E dự phóng 2019 là 24,2 lần và EV/EBITDA là 19,8 lần.

Triển vọng tăng trưởng của VNM hiện giảm về mức một chữ số – Không có M&A, có vẻ như tăng trưởng của VNM hiện giảm về mức một chữ số đối với cả doanh thu và lợi nhuận khi mà (1) thị trường sữa đã tương đối bão hòa và (2) việc gia tăng thị phần sẽ khó khăn hơn do VNM đã ở vị thế áp đảo ở hầu hết các phân khúc. Do đó, tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận của VNM nhiều khả năng sẽ ở mức tương đương với ngành sữa. Theo đó, công ty có thể phải tìm kiếm nguồn tăng trưởng mới và có thể là thông qua M&A.

Quan điểm đầu tư. Giảm đánh giá từ Khả quan xuống Nắm giữ. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu là 183.000đ; tương đương P/E dự phóng năm 2018 là 27,5 lần. Công ty có vẻ vẫn có thể giành thêm một chút thị phần ở một số phân khúc mặc dù theo đó sẽ kéo theo sự gia tăng của chi phí bán hàng & quản lý, tuy nhiên triển vọng ngành hiện tại là không được sáng sủa lắm. Mặc dù vậy trong trung hạn thị trường sữa vẫn còn nhiều tiềm năng tăng trưởng nhờ: cơ cấu dân số, quá trình đô thị hóa đang diễn ra và thu nhập tăng lên.

  • Cổ phiếu ngành công nghệ lình xình.
  • Cổ phiếu ngành sản xuất biến động trái chiều với STK và TCM tăng trong khi HSG và NKG giảm. HHS và TMT tăng trần.

Tin KQKD – KQKD 6 tháng đầu năm của HPG tốt như dự báo. Triển vọng tương lai tốt. Tiếp tục đánh giá MUA VÀO. CTCP Tập đoàn Hòa Phát (HPG – Mua vào) công bố KQKD 6 tháng đầu năm chưa kiểm toán rất khả quan với doanh thu thuần đạt 27.262 tỷ đồng (tăng 30,6% so với cùng kỳ) và LNST đạt 4.425 tỷ đồng (tăng 27,4% so với cùng kỳ). Kết quả này sát với dự báo của HSC cho 6 tháng đầu năm với doanh thu đạt 27.140 tỷ đồng và LNST đạt 4.473 tỷ đồng. Doanh thu và lợi nhuận tăng tốt chủ yếu nhờ (1) giá bán bình quân tăng; (2) sản lượng tiêu thụ tăng tốt; (3) tỷ suất lợi nhuận của mảng thép được cải thiện cao hơn và (4) lợi nhuận từ dự án Mandarin Gardern 2. Theo đó, công ty đã hoàn thành 50,2% kế hoạch doanh thu và 55% kế hoạch lợi nhuận cả năm.

Kết luận nhanh. Tiếp tục đánh giá MUA VÀO. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu HPG là 45.370đ, tương đương P/E dự phóng 2018 là 11 lần. HSC dự báo LNST năm 2018 tăng trưởng 16,9% và năm 2019 tăng trưởng 16,7%. KQKD 6 tháng đầu năm khả quan nhờ nhu cầu tăng ổn định và giá bán bình quân cao hơn. Trong khi đó công suất mới sẽ đi vào hoạt động trong 6 tháng cuối năm và nhờ vậy sản lượng tiếp tục gia tăng. Nhu cầu tăng ổn định và HPG đã hoạt động với công suất tối đa trong thời gian qua. Trong khi đó lo ngại về việc trì hoãn bàn giao dự án Mandarin Garden 2 là không có cơ sở do công tác thanh tra an toàn phòng cháy chữa cháy đã được nghiệm thu thành công. Mảng nông nghiệp cũng đang dần mở rộng và hiện đã đóng góp lợi nhuận. Tuy nhiên mảng này vẫn cho tỷ suất lợi nhuận thấp và do đó ảnh hưởng nhẹ đến tỷ suất lợi nhuận chung. Cổ phiếu ngành thép hiện không còn được NĐT ưa chuộng, tuy vậy HPG vẫn duy trì tỷ lệ tăng trưởng cao và luôn vượt kế hoạch kinh doanh. Bên cạnh đó là lợi thế đầu ngành sản xuất ở Việt Nam.

Doanh thu tăng nhờ kết hợp các yếu tố sau (1) doanh thu mảng thép tăng 25,2% so với cùng kỳ; (2) doanh thu mảng BĐS tăng mạnh 127,4% so với cùng kỳ; (3) doanh thu mảng nông nghiệp cũng tăng bất ngờ 98,7% và (4) doanh thu từ các mảng công nghiệp khác tăng 17,44% so với cùng kỳ. Cụ thể;

–     Mảng thép đạt mức doanh thu thuần là 22.611 tỷ đồng (tăng 25,2% so với cùng kỳ) và đóng góp 83% tổng doanh thu thuần. Sản lượng thép xây dựng tiêu thụ đạt 1.096.000 tấn (tăng 8,15% so với cùng kỳ) trong khi đó giá bán bình quân tăng lên khoảng 13,2 triệu đồng/tấn (tăng 21,9% so với cùng kỳ). Đối với ống thép, sản lượng tiêu thụ đạt khoảng 314.200 tấn (tăng 14,8% so với cùng kỳ).

–     Mảng nông nghiệp báo đạt doanh thu thuần 2.011 tỷ đồng (tăng mạnh 98,7% so với cùng kỳ) và đóng góp 7,4% tổng doanh thu thuần nhờ có thêm đóng góp từ mảng lợn và trứng gà bên cạnh thức ăn chăn nuôi và bò.

–     Mảng BĐS hạch toán 802 tỷ đồng từ dự án Mandarin Garden 2 (cùng kỳ năm ngoái chỉ hạch toán 30 tỷ đồng đối với hoạt động bất động sản đã bán). Nhờ vậy, tổng doanh thu BĐS trong 6 tháng đầu năm đạt 1.066 tỷ đồng (tăng 127,2% so với cùng kỳ).

–     Về các mảng khác, doanh thu tăng 17,4% so với cùng kỳ đạt 1.575 tỷ đồng, đóng góp 5,8% tổng doanh thu thuần.

Các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng lợi nhuận gồm:

–     Tỷ suất lợi nhuận thuần của mảng thép tăng nhờ giá bán cao hơn và sản lượng tiêu thụ tăng.

–     LNST của mảng nông nghiệp đạt khoảng 4,6 tỷ đồng (tăng 60,3% so với cùng kỳ).

–     Công ty cũng ghi nhận khoảng 200 tỷ đồng LNST từ dự án Mandarin Garden 2 trong 6 tháng đầu năm nay.

–     Tỷ giá chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu thuần giảm.

Chỉ riêng Q2, doanh thu thuần đạt 14.430 tỷ đồng (tăng 34% so với cùng kỳ) và LNST đạt 2.202 tỷ đồng (tăng 43% so với cùng kỳ). Chủ yếu nhờ:

  1. Sản lượng thép xây dựng tiêu thụ tăng 9,1%.
  2. Sản lượng ống thép tiêu thụ tăng 13,2%.
  3. Giá bán bình quân thép xây dựng tăng mạnh 25,81% so với cùng kỳ.

Tỷ suất LNST của mảng thép tăng đạt 16,7% từ 15,2% trong Q2 năm ngoái.

Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận gộp chung 6 tháng đầu năm giảm 0,86% do tỷ trọng đóng góp lớn hơn từ mảng nông nghiệp có tỷ suất lợi nhuận thấp – Lợi nhuận gộp 6 tháng đầu năm đạt 5.847 tỷ đồn (tăng 25,7% so với cùng kỳ) và tỷ suất lợi nhuận gộp giảm nhẹ xuống 21,44% từ 22,3% trong cùng kỳ năm ngoái. HPG chỉ công bố số liệu về tỷ suất LNST của từng mảng, do đó khó để tính chính xác tỷ suất lợi nhuận gộp theo từng mảng kinh doanh. Một số ghi nhận của chúng tôi ở đây gồm:

  • Mảng nông nghiệp với tỷ suất lợi nhuận thấp đóng góp doanh thu thuần lớn hơn từ 4,8% trong 6 tháng đầu năm ngoái lên 7,4% trong 6 tháng đầu năm nay, từ đó kéo giảm tỷ suất lợi nhuận chung.
  • Tỷ suất lợi nhuận của các mảng công nghiệp khác cũng giảm, tuy nhiên chúng tôi không có số liệu cụ thể.
  • Trái lại, tỷ suất lợi nhuận của mảng thép cũng được cải thiện nhờ chi phí được quản lý tốt và giá bán bình quân tăng mạnh.

Chi phí bán hàng & quản lý 6 tháng đầu năm là 479 tỷ đồng (tăng 3,43% so với cùng kỳ) và tương đương chỉ 1,75% doanh thu thuần – Chi phí bán hàng giảm 9,8% so với cùng kỳ là 298,5 tỷ đồng chủ yếu nhờ phí vận chuyển giảm và phí xuất khẩu giảm 33%. Trong Q2 năm nay, công ty đã tiến hành nâng cấp lò cao thứ 2 trong 2 tháng dẫn đến tình trạng thiếu hụt công suất nội bộ, HPG đã chuyển sự tập trung sang thị trường phía bắc, nhờ vậy chi phí vận chuyển giảm. Đồng thời, do đó thị phần của HPG ở thị trường phía Nam cũng giảm mạnh. Tuy nhiên, thị phần sẽ tăng trở lại khi Lò cao số 2 và Dung Quất Giai đoạn 1 đi vào hoạt động. Phí xuất khẩu giảm nhờ những lợi thế về vi mô. Trái lại, chi phí quản lý tăng lên 180,7 tỷ đồng (tăng 36,5% so với cùng kỳ) do phí mua ngoài tăng 103% so với cùng kỳ.

Lỗ tài chính thuần tăng lên 188,3 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm từ mức lỗ 152,1 tỷ đồng trong cùng kỳ năm ngoái – Trong đó, thu nhập tài chính tăng 34,4% so với cùng kỳ lên 142,7 tỷ đồng nhờ lãi tiền gửi tăng mạnh 71,7% so với cùng kỳ. Trong khi đó, chi phí tài chính cũng tăng 28,1% so với cùng kỳ lên 331 tỷ đồng do chi phí lãi vay tăng 18,5%.

Theo đó, lợi nhuận tăng 27,4% nhờ doanh thu tăng cộng với chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu thuần giảm – LNTT đạt 5.186 tỷ đồng (tăng 28% so với cùng kỳ) và LNST tăng 27,4% so với cùng kỳ đạt 4.425 tỷ đồng.

Tuần trước, HPG thông báo Dự án Mandarin Garden 2 đã được nghiệm thu phòng cháy chữa cháy – sau khi thanh tra hệ thống chữa cháy cho dự án này. Chúng tôi trước đó đã thận trọng điều chỉnh giảm khoảng 200 tỷ đồng đối với dự báo LNST năm 2018 từ dự án này. Hiện tại, sau khi trao đổi với công ty, chúng tôi hiểu rằng sẽ lộ trình bàn giao nhà sẽ không bị trì hoãn nhiều. Và theo đó, chúng tôi cộng trở lại khoảng 150 tỷ đồng đóng góp từ dự án cho dự báo năm 2018.

Quá trình xây dựng nhà máy Dung Quất vẫn theo đúng tiến độ – Nhà máy cán thép giai đoạn 1 thuộc dự án Dung Quất cũng sẽ đi vào hoạt động vào tháng 8 năm nay, chậm hơn một vài tuần so với kế hoạch do công ty hiện đang chờ một số máy cắt để lắp đặt vào dây chuyền:

–     Nhà máy cán thép mới này sẽ nâng công suất thép xây dựng thêm 600.000 tấn (tăng 25%); giúp duy trì tăng trưởng cho công ty trong 6 tháng cuối năm và năm sau.

–     Hiện tại, các nhà máy hiện tại của công ty đã hoạt động với gần 100% công suất. Lò cao thứ hai đã hoạt động trở lại vào cuối tháng 5 sau 2 tháng ngừng hoạt động để nâng cấp.

–     Ban đầu, công ty sẽ cố gắng sử dụng tối đa công suất nhà máy hiện tại để sản xuất phôi cho nhà máy cán mới tại Dung Quất để sản xuất các sản phẩm thép thành phẩm trước khi toàn bộ Giai đoạn 1 của dự án đi vào hoạt động vào đầu năm 2019.

Nhà máy tôn mạ đi vào hoạt động muộn hơn do nhu cầu thị trường yếu – Theo kế hoạch, nhà máy tôn mạ giúp hoàn thiện chuỗi giá trị toàn diện cho tôn mạ sẽ đi vào hoạt động trong tháng 7 năm nay. Tuy nhiên, do điều kiện thị trường cạnh tranh, công ty đã lùi thời gian đưa nhà máy tôn mạ vào hoạt động trễ hơn dự kiến 2 tháng hoặc lâu hơn. Nhà máy này có công suất thiết kế là 400.000 tấn/năm và có vốn đầu tư là 2.700 tỷ đồng.

–     Công ty đã hoàn thiện dây chuyền mạ màu vào cuối năm ngoái, và HPG mua tôn mạ kẽm từ bên ngoài, sau đó qua dây chuyền mạ màu để sản xuất thành phẩm.

–     Hiện tại, công ty đang hoàn thiện cơ sở mạ kẽm và dự kiến sẽ giới thiệu sản phẩm tôn mạ đầu tiên ra các kênh phân phối thương mại trước cuối Q3 năm nay.

–     HSC dự báo sản lượng tôn mạ tự sản xuất tiêu thụ của HPG đạt 250.000 tấn, tương đương 62,5% công suất thiết kế và hiện tại phần lớn sản lượng là bán cho dự án Dung Quất.

Triển vọng KQKD 6 tháng cuối năm tốt hơn – Như chúng tôi đã đề cập trên đây, lò cao số 2 đã hoạt động trở lại vào cuối tháng 5 sau hai tháng nâng cấp. Do nhà máy này tạm ngừng hoạt động trong 2 tháng, sản lượng tiêu thụ trong quý 2 giảm, đặc biệt ở thị trường phía Nam. Do đó, khi lò cao này hoạt động trở lại vào cuối tháng 5, cộng với giai đoạn 1 của nhà máy Dung Quất sẽ đi vào hoạt động trong tháng 8, sản lượng sản xuất sẽ tăng nhanh hơn trong 6 tháng cuối năm. Từ đó thúc đẩy doanh thu và lợi nhuận.

Giá thép Trung Quốc tăng gần đây – Do tình trạng thiếu hụt nguồn cung thép trong nước, giá thép Trung Quốc gần đây đã tăng mạnh lên mức kỷ lục kể từ tháng 2/2013. Chính phủ Trung Quốc tiếp tục đóng cửa các nhà máy thép cũ do những lo ngại về môi trường. Do đó giá thép trên thị trường Việt Nam cũng tăng trở lại và việc thiếu hụt nguồn cung tại thị trường Trung Quốc cũng góp phần giảm bớt áp lực cạnh tranh từ thép nhập khẩu.

HSC dự báo sản lượng tiêu thụ trong tháng 6 sẽ tăng 15% so với tháng liền trước. Giá bán bình quân cũng tiếp tục tăng. Chúng tôi cũng lưu ý HPG có kế hoạch tăng giá bán vào đầu tháng 8 tới.

Cho cả năm 2018, HSC điều chỉnh tăng dự báo LNST và hiện dự báo mức tăng trưởng 16,9% – HSC hiện dự báo trong năm 2018 công ty sẽ đạt doanh thu thuần 62.773 tỷ đồng (tăng trưởng 36%) và LNST đạt 9.367 tỷ đồng (tăng trưởng 16,9%) từ 9.231 tỷ đồng trước đó. Chúng tôi công trở lại 150 tỷ đồng lợi nhuận từ dự án Mandarin Gardens 2 vào dự báo lợi nhuận. Các giả định chính của chúng tôi gồm:

  • Doanh thu từ thép đạt 54.252 tấn (tăng 36,5%) nhờ sản lượng tiêu thụ thép xây dựng tăng 8,7% và sản lượng ống thép cũng tăng 15%. Đồng thời, dự báo sản lượng tiêu thụ tôn đạt 250.000 tấn, tạo doanh thuần 5.500 tỷ đồng.
  • Chúng tôi giả định giá bán bình quân thép xây dựng sẽ tăng lên 13 triệu đồng/tấn (tăng 15%).
  • Chúng tôi dự báo doanh thu mảng thức ăn chăn nuôi là 3.619 tỷ đồng (tăng trưởng 25%) trong khi đó các mảng kinh doanh nhỏ khác cũng tăng trưởng doanh thu 7-10%.
  • Lợi nhuận gộp dự báo là 12,5 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 17,4%) với tỷ suất lợi nhuận gộp giảm xuống 20% (năm 2017 là 23%) do chi phí khấu hao từ dự án Dung Quất và nhà máy tôn tăng.
  • Chúng tôi dự báo lỗ tài chính thuần tăng lên 615,4 tỷ đồng từ 370 tỷ đồng do chi phí lãi vay tăng.
  • Chi phí bán hàng & quản lý là 1.327 tỷ đồng (tăng 36,8%) với tỷ lệ chi phí này trong doanh thu thuần dự báo là 2,2%.

Theo đó, chúng tôi dự báo LNTT và LNST lần lượt là 10.705 tỷ đồng (tăng trưởng 15,3%) và 9.367 tỷ đồng (tăng trưởng 16,9%). EPS dự phóng 2018 là 4.186đ, P/E dự phóng là 8,9 lần.

Cho năm 2019, HSC dự  báo LNST tăng trưởng 16,7% – Cụ thể, HSC dự báo doanh thu thuần đạt 78.017 tỷ đồng (tăng trưởn 25%) và LNST đạt 10.927 tỷ đồng (tăng trưởng 16,7%). Các giả định chính của chúng tôi gồm:

  • Sản lượng thép dài tiêu thụ đạt 2.968.937 tấn (tăng trưởng 25,6%) nhờ đóng góp lớn hơn từ Giai đoạn 1 nhà máy Dung Quất.
  • Sản lượng ống thép tiêu thụ tăng lên 759.000 tấn (tăng trưởng 10%) nhờ mở rộng các nhà máy hiện tại và công ty bắt đầu cho tiêu thụ ống thép kích thước lớn từ năm sau.
  • Sản lượng tôn tiêu thụ dự báo đạt khoảng 350.000 tấn (tăng trưởng 40%).
  • Lợi nhuận gộp dự báo đạt 15.070 tỷ đồng (tăng trưởng 19,2%) và tỷ suất lợi nhuận gộp đạt 19,3% từ 20,1% trong năm nay chủ yếu do chi phí khấu hao từ nhà máy Dung Quất tăng.

Giả định tổng số cổ phiếu đang lưu hành không đổi, EPS dự phóng là 4.882đ và P/E dự phóng là 7,64 lần.

Quan điểm đầu tư – Tiếp tục đánh giá MUA VÀO. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý đối với cổ phiếu HPG là 45.370đ tương đương P/E dự phóng 2018 là 11 lần. HSC vẫn lạc quan về HPG nhờ vị thế dẫn đầu mảng thép dài được dự báo sẽ tăng trưởng nhanh hơn mảng tôn vốn đã được dẫn dầu bởi HSG và NKG. Chiến lược mở rộng công suất liên tục là động lực tăng trưởng chính của HPG trong vài năm qua, cho phép công ty hiện đại hóa các cơ sở sản xuất và duy trì lợi thế về quy mô. Nhu cầu mở rộng công suất hơn nữa là rất rõ ràng do các nhà máy của công ty, cả nhà máy thép xây dựng và ống thép đều đã đang hoạt động với công suất tối đa. Dĩ nhiên nhu cầu tăng công suất dựa trên giả định công ty sẽ tiếp tục giành thêm thị phần nhờ chi phí sản xuất trên mỗi tấn thép của HPG thấp hơn so với cả sản phẩm nhập khẩu cũng như các sản phẩm nội địa khác. Và nhà máy cán thép mới đi vào hoạt động sẽ là động lực tăng trưởng lợi nhuận chính cho năm nay.

(Lượt xem: 79 lần, 1: Lượt xem trong ngày)