Cập nhật doanh nghiệp – Sacombank (STB)

Cập nhật doanh nghiệp – Sacombank (HSX: Không xếp hạng) đã công bố LNTT năm 2018 đạt 2.246 tỷ đồng (tăng trưởng 50,6%). Tuy nhiên với chính sách hạch toán kế toán đặc biệt mà NHNN cho phép Ngân hàng sử dụng trong 10 năm kể từ năm 2015 sau khi sáp nhập với Ngân hàng Phương Nam, thì chúng tôi tháy rằng KQKD công bố không phản ánh thực sự hoạt động kinh doanh và không thể sử dụng để so sánh với các ngân hàng cùng ngành.

Kết luận nhanh – Chúng tôi quyết định không đưa ra đánh giá xếp hạng cho cổ phiếu STB do thiếu những dự báo đáng tin cậy về tăng trưởng lợi nhuận. Sau khi sáp nhập với Ngân hàng Phương Nam, STB đã được NHNN cho phép áp dụng chính sách hạch toán dự phòng linh hoạt dựa trên năng lực tài chính thực tế của Ngân hàng. Do vậy việc dự báo lợi nhuận của Ngân hàng trên thực tế là việc không thể thực hiện được. Kế hoạch kinh doanh mà ban lãnh đạo Ngân hàng đưa ra tại ĐHCĐTN có lẽ là thông tin quan trọng duy nhất đối với NĐT ở vấn đề này. Do vậy, chúng tôi muốn tập trung vào việc cập nhật tiến độ xử lý các tài sản xấu thay vì phân tích hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, chúng tôi thấy quá trình xử lý tài sản xấu chỉ có rất ít tiến triển.

Tóm lược chính sách hạch toán kế toán đặc biệt STB được phép áp dụng

Kế hoạch tái cơ cấu STB đã được NHNN chính thức chấp thuận trong Văn bản số 426/NHNN-TTGSNH.Tym và Quyết định số 34/QĐ-NHNN.Tym và sẽ được áp dụng trong gần 10 năm, đến 2025 với 3 giải pháp lớn sau:

  • Thoái lãi dự thu: STB được phép thoái lãi dự thu trong tối đa 10 năm. Tổng số lãi dự thu được phép áp dụng chính sách đặc biệt này là khoảng 21.575 tỷ đồng (theo công bố trên BCTC kiểm toán).
  • Chi phí dự phòng cho vay khách hàng: STB được phép trích lập dự phòng cho vay khách hàng dựa trên năng lực tài chính thực tế theo Kế hoạch tái cơ cấu. Nợ xấu sau kiểm toán đã tăng đáng kể từ 2,81% lên 6,89% tổng dư nợ cho vay tại thời điểm năm 2016. Nợ xấu mới phát sinh là 8.410 tỷ đồng. Ngoài ra, từ BCTC kiểm toán, chúng tôi thấy STB có 8.379 tỷ đồng cho vay khách hàng thuộc nợ nhóm 1 và khoảng 12.226 tỷ đồng các khoản phải thu và tài sản khác; sẽ được áp dụng chính sách hạch toán đặc biệt theo Kế hoạch tái cơ cấu. Theo đó tổng nợ xấu có thể vào khoảng 28.745 tỷ đông tại thời điểm cuối năm 2016.
  • Trái phiếu VAMC: STB được phép trích lập cho trái phiếu VAMC dựa trên năng lực tài chính thực tế trong thời gian thực hiện Kế hoạch tái cơ cấu. Chúng tôi thấy STB hiện có 37.300 tỷ đồng trái phiếu VAMC với chỉ 1.649 tỷ đồng dự phòng lũy kế đã được trích lập tại thời điểm năm 2016. Theo đó, lượng trái phiếu VAMC chưa được trích lập theo mệnh giá là khoảng 35.651 tỷ đồng. Trái phiếu VAMC ban đầu có kỳ hạn 5 năm. Nhưng do giá trị lớn, nên nhiều khả năng STB sẽ xin nới thời gian trích lập lên 10 năm và áp dụng thời gian trích lập dài hơn.
  • Tài sản đảm bảo: STB được phép bán nợ xấu và/hoặc tài sản đảm bảo cho cá nhân và tổ chức tại giá thị trường. Trong trường hợp giá bán thấp hơn giá trị số sách của nợ xấu hoặc tài sản đảm bảo làm phát sinh lỗ, thì STB có thể phân bổ khoản lỗ trên báo cáo kết quả kinh doanh dựa trên năng lực tài chính thực tế nhưng thời gian phân bổ không quá 5 năm kể từ ngày bán nợ xấu và/hoặc tài sản đảm bảo. Ở vấn đề này, hiện chúng tôi thiếu danh sách các tài sản đảm bảo. Ngoài ra, chúng tôi cũng thiếu thông tin về giá trị số sách và giá trị thị trường của các tài sản đảm bảo để đánh giá tác động khả dĩ đối với lợi nhuận của STB trong tương lai. Tuy nhiên có thể giả định một cách an toàn là tổng giá trị thị trường của tài sản đảm bảo dưới 50% tổng giá trị nợ xấu và giá trị trái phiếu VAMC tính theo mệnh giá.

Cập nhật về các tài sản xấu

Tiến triển trong xử lý tài sản xấu của STB chậm hơn dự kiến. Hiện chúng tôi thiếu thông tin chi tiết về tài sản xấu trên BCTC Q4. Tuy nhiên tại thời điểm cuối tháng 6/2018, giá trị gộp của các tài sản xấu là 80,68 nghìn tỷ đồng và giá trị thuần là 78,53 nghìn tỷ đồng (bằng 34,24% tổng dư nợ).

Từ năm 2015 đến 6 tháng đầu năm 2018, STB đã giảm 4,6 nghìn tỷ đồng giá trị gộp tài sản xấu và giảm 5,37 nghìn tỷ đồng giá trị thuần. Như đã đề cập trong báo cáo trước đây của chúng tôi, tổng giá trị tài sản xấu sẽ là quá lớn để trích lập dự phòng toàn bộ, cho dù thời gian trích lập có là 10 năm. Do vậy, việc thu hồi được tài sản xấu (và chịu lỗ thực tế) có lẽ phụ thuộc vào việc thanh lý tài sản đảm bảo (và chúng tôi không có thông tin đầy đủ về mặt này).

Tuy nhiên do lãi dự thu từ tài sản xấu chỉ là bút toán hình thức trong nhiều năm và tiếp nhận từ Ngân hàng Phương Nam sau khi sáp nhập, nên đây có thể là khoản lỗ tối thiểu mà STB phải chịu trong bất kỳ trường hợp nào. Vì chúng tôi cho rằng lãi dự thu bản chất là không có tài sản đảm bảo và khả năng thu hồi là rất thấp, từ đó chúng tôi đã rút ra kết luận trên.

STB hiện đang nỗ lực xử lý gánh nặng tài sản xấu bằng những giải pháp sau:

(1)  Nỗ lực thu hồi lãi và gốc quá hạn từ các tài sản xấu.

(2)  Bán tài sản đảm bảo của các khoản nợ xấu lớn với điều khoản trả chậm 7-10 năm kèm phí trả chậm.

(3)  Trích lập dự phòng cho trái phiếu VAMC

(4)  Phân bổ dần lãi dự thu cần thoái vào chi phí lãi vay mỗi năm.

Tuy nhiên, quá trình thu hồi nợ xấu và trích lập dự phòng có vẻ rất chậm và bức tranh chung có lẽ chưa thay đổi nhiều trong 4 năm qua.

Tăng trưởng:

Cho vay khách hàng tăng 15% đạt 257,17 nghìn tỷ đồng với cơ cấu cho vay theo kỳ hạn như sau:

  • Cho vay kỳ hạn ngắn tăng mạnh 23,8% so với năm ngoái đạt 123,16 nghìn tỷ đồng (tương đương 48% tổng dư nợ so với mức 44,6% vào cuối năm 2017).
  • Cho vay trung và dài hạn tăng nhẹ 8,1% so với năm ngoái lên 133,45 nghìn tỷ đồng (tương đương 52% tổng dư nợ so với mức 55,4% vào cuối năm 2017).

Ngân hàng chưa công bố cơ cấu cho vay theo đối tượng khách hàng và lĩnh vực; tuy nhiên từ BCTC 6 tháng đầu năm, chúng tôi thấy cho vay khách hàng cá nhân vẫn là động lực tăng trưởng mạnh mẽ nhất của STB (tăng 12,5% so với đầu năm, chiếm 59,7% tổng dư nợ), tiếp theo là cho vay khu vực tư nhân (tăng 8% so với cùng kỳ, chiếm 38,2% tổng dư nợ). Theo lĩnh vực cho vay, chiếm tỷ trọng lớn nhất là cho vay tư vấn và dịch vụ BĐS (chiếm 17% tổng dư nợ), cho vay kinh doanh hộ gia đình (chiếm 16,9% tổng dư nợ) và cho vay nông lâm ngư nghiệp (chiếm 11,3% tổng dư nợ)

Tiền gửi khách hàng cũng tăng 9,2% so với năm ngoái đạt 349,19 nghìn tỷ đồng với cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn như sau.

  • Tiền gửi có kỳ hạn tăng 8% so với năm ngoái lên 296,45 nghìn tỷ đồng, đóng góp 84,9% vào tổng vốn huy động (tại thời điểm cuối năm 2017 là 85,8%).
  • Trái lại, tiền gửi không kỳ hạn tăng mạnh 17,1% so với năm ngoái lên 51,86 nghìn tỷ đồng, đóng góp 15,1% vào tổng vốn huy động (cuối năm 2017 là 14,2%).

Tỷ lệ LDR thuần tăng từ 69% tại thời điểm cuối năm 2017 lên 73%. Tỷ lệ này thấp so với các ngân hàng niêm yết. Tuy nhiên STB có một lượng lớn các tài sản xấu (giá trị thuần là 78,53 nghìn tỷ đồng, bằng 34,3% tổng dư nợ) và không giống như những tài sản bình thường khác, các tài sản này sẽ không tạo ra dòng tiền đều. Do vậy để đánh giá rủi ro thanh khoản ở đây, cần cộng cả những tài sản này khi tính tỷ lệ LDR. Theo đó sau khi điều chỉnh theo tài sản xấu, thì tỷ lệ LDR là 96,1% (tại thời điểm cuối năm 2017 là 95,6%).

Lợi suất

Tỷ lệ NIM là 2,34% so với 1,82% trong năm 2018 (tăng 0,52%). Tuy nhiên, tỷ lệ NIMs thực tế tại ngân hàng tốt (không phải gánh chịu các tài sản xấu) cao hơn nhiều và đạt mức 3,33% theo ước tính của HSC. Tỷ lệ NIM thực tế được điều chỉnh bởi việc tách trái phiếu đặc biệt VAMC ra khỏi các tài sản sinh lãi (do coupon chỉ 0%), và tách chi phí từ thoái lãi dự thu khỏi thu nhập lãi.

Tỷ lệ NIMs của STB tương đối thấp so với các ngân hàng niêm yết chủ yếu do ảnh hưởng của các yếu tố sau:

  • Ảnh hưởng trọng yếu từ danh mục TP VAMC với lãi suất coupon 0% sẽ tác động lên lợi suất bình quân của danh mục trái phiếu (STB có khoảng 40 nghìn tỷ trái phiếu VAMC, tương đương 50% tổng danh mục trái phiếu)
  • Ảnh hưởng của việc thoái lãi dự thu lên thu nhập lãi. STB đã thoái một số lãi dự thu (không có khả năng thu hồi) mỗi năm dựa trên năng lực tài chính thực tế của ngân hàng. Chi phí này thường được ghi nhận như một khoản chi phí lãi.

Do đó, nếu loại bỏ những ảnh hưởng trên, thì tỷ lệ NIMs thực tế tại ngân hàng tốt được ước tính là 3,3%, tức là cao hơn gần 1% so với mức ban đầu tính toán.

Đối với cơ cấu tài sản sinh lãi, STB đã gia tăng tỷ trọng cho vay khách hàng từ 73,1% lên 75,7% trong năm qua.

Kết quả lợi nhuận

Thu nhập lãi thuần đạt 7.633 tỷ đồng (tăng trưởng 44,6%) – nhờ tỷ lệ NIM công bố tăng 0,52% (từ 1,82% lên 2,34%) và tài sản sinh lãi tăng trưởng 11,1% đạt 339,93 nghìn tỷ đồng.

Tổng thu nhập ngoài lãi cũng tăng tốt, tăng 20,1% đạt 4.043 tỷ đồng, trong đó:

  • Lãi thuần HĐ dịch vụ gần như giữ nguyên ở 2.682 tỷ đồng (tăng trưởng 2,22%).
  • Lãi thuần HĐ kinh doanh ngoại hối tăng trưởng 16,7% đạt 401,27 tỷ đồng
  • Lãi thuần mua bán chứng khoán kinh doanh và đầu tư giảm mạnh từ 171,48 nghìn tỷ đồng xuống còn 24,52 tỷ đồng (giảm 85,7%). Tuy nhiên tỷ trọng nguồn thu nhập này trong tổng thu nhập ngoài lãi không lớn.
  • Thu nhập từ HĐ khác tăng gần gấp 3 lên 932,68 tỷ đồng, và
  • Thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần gần như bằng không, chỉ là 2,8 tỷ đồng (năm ngoái lỗ 87 tỷ đồng).

Theo đó, tổng thu nhập hoạt động đạt 11.676 tỷ đồng (tăng trưởng 35,1%).

Chi phí hoạt động tăng 23,7% lên 7.838 tỷ đồng – Chi phí hoạt động từ hoạt động kinh doanh cốt lõi chỉ tăng 14,9%. Có một số chi phí dự phòng được ghi nhận vào chi phí hoạt động. Chẳng hạn vào năm 2017, STB đã ghi nhận khoản hoàn nhập dự phòng  225 tỷ đồng vào chi phí hoạt động. Trong khi đó, trong năm 2018, Ngân hàng hạch toán 73,9 tỷ đồng chi phí dự phòng vào chi phí hoạt động. Nếu không tính các chi phí này, thì chi phí hoạt động từ hoạt động kinh doanh chính tăng 14,9%.

Theo đó, hệ số CIR từ hoạt động kinh doanh chính là 66,5% (năm 2017 là 78,2%).

Chất lượng tài sản và dự phòng

Bên cạnh việc được áp dụng chính sách hạch toán kế toán đặc biệt cho các tài sản xấu, STB còn được phép trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu thông thường  dựa trên năng lực tài chính thực tế và hệ số LLR vẫn rất thấp.

Triển vọng lợi nhuận năm 2019:

Do được áp dụng chính sách hạch toán kế toán đặc biệt nên khó có thể dự báo lợi nhuận cho Ngân hàng. Chúng tôi sẽ sử dụng thông tin chung từ kế hoạch do ban lãnh đạo STB đưa ra làm cơ sở hợp lý nhất khi dự báo lợi nhuận năm 2019. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng KQKD này không có nhiều ý nghĩa trong việc định giá hay so sánh với các ngân hàng khác.

Cho năm 2019, chúng tôi kỳ vọng LNTT của STB sẽ tăng trưởng ổn định từ 15-20% dựa trên những giả định sau.

(1)  Cho vay khách hàng tăng trưởng 14%.

(2)  Tỷ lệ NIM sẽ cải thiện nhẹ lên 2,5% với việc hoàn lãi dự thu sẽ ảnh hưởng một chút.

(3)  Theo đó thu nhập lãi thuần sẽ tăng trưởng tốt, tăng trưởng 19,9%.

(4)  Thu nhập ngoài lãi sẽ tăng nhẹ 7,1% lên 4.331 tỷ đồng.

(5)  Tổng chi phí hoạt động sẽ tăng vừa phải, tăng 10% lên 8.621 tỷ đồng (không dự báo về chi phí dự phòng tài sản xấu được đưa vào chi phí hoạt động).

(6)  KQKD khả quan hơn từ các ngân hàng tốt sẽ tạo cơ sở để STB đẩy mạnh trích lập dự phòng thêm 38,9% lên 2.211 tỷ đồng.

(7)  Theo đó LNTT tăng trưởng 18% đạt 2.652 tỷ đồng.

(Lượt xem: 99 lần, 1: Lượt xem trong ngày)